Khủng hoảng nợ nước ngoài (P4)

Do thiếu hiệu quả về quản lý kinh tế kém như chỉ ra trước đây ở Nigeria, các nước Nigei'ia, Zaừe, Ghana và các chính phủ quân sự Mỹ La—tinh trong những năm 1970, đã không tăng được xuất khẩu để du hoc han trả nợ và lãi. Việc Argentina tăng chỉ tiêu cộng cộng lên nhiều trong các năm 1970 so với sự tài trợ của các khoản vay từ bên ngoài đã làm tăng nợ nước ngoài và giảm khả năng xuất khẩu. Sự điều chỉnh thiết yếu để co' thể xuất khẩu nhiều hơn nhập, và để sản xuất nhiều hơn là chi tiêu đòi hỏi phải chuyển những sự giảm bớt chi tiêu của chính phủ thành thu nhập về ngoại tệ và thu lợi trong cạnh tranh, và điều đó thường đòi hỏi phải giảm bớt cầu dich vu ke toan gia re và tiền lương, thật sự giảm giá đồng tiền và tăng thất nghiệp.

Sự bất ổn định toàn cầu đo' tãng thêm những cú sốc từ bên ngoài và làm phương hại đến sự hoạch định dài hạn của các nước kém phát triển

Nhưng khi nhiều nước kém phát triển tiến hành sự điều chỉnh đó thì lợi ỉch họ thu được lại ít hơn. ví dụ, năm 1985, đã có sức ép xuat khau lao dong nhat ban buộc các con nợ tàng cường thu nhập từ xuất khẩu, điều đó đã làm cho sản phẩm sơ chế dư thừa và giá cả của chúng giảm sút mạnh. Mexico đã giảm lương thực tế 40%, tăng tỷ lệ thất nghiệp, và giảm giá đồng peso từ 1980 đến 1987 để nâng khả năng cạnh ti-anh quốc tế của mình khoảng 40%. Việc giảm tiền đã nâng tỷ lệ lãi suất danh nghĩa, một điều cần thiết để khuyến khích dân Mexico giữ đồng peso chứ không phải giữ đồng đô la Mỹ. ít nước tán thành giảm bớt việc làm và tiền lương thực tế trong nước để đưa cán cân hàng hoá và dịch vụ trở lại mức cân bằng.

Khi các khoản vay được tính bằng USD, việc đồng đô la tăng giá (giá trị tăng so với đồng tiền chính khác) từ 1980 đến 1984, đã làm tăng chi phí về tiền địa phương và tiền không phải đô la để trả nợ và lãi cho các khoản nợ, hoặc từ 1985 đến 1988, các khoản nợ không phải đô la đã tăng lên khi được tính bằng đô la mà đô la giảm giá (giá đôla giảm so với các đồng tiền chính khác), ví dụ, sô tiền Indonesia nợ Nhật năm 1985 là 1,250 tỷ yên nhưng giá trị bằng đồng USD của sổ nợ đó lại tăng từ 5 tỷ USD lên thành 10 tỷ USD năm 1988 vì đồng đô la Mỹ giảm giá từ 250 yên=l USD xuống thành 125yên=l USD. Các nhà cho vay trên thê' giới đòi hỏi các chính phủ các nước kém phát triển đảm lãnh nợ tư nhân, và do đó đã tăng mức trả nợ và lãi công cộng. 

Nâng giá quá mức đồng tiền quốc gia và hạn chế ngoại thương và thanh toán quốc tế góp phần làm cho vốn tuồn ra khỏi các nước kém phát triển, làm gay gát thêm thâm hụt tài khoản vãng lai và các vấn đề nợ nứớc ngoài. Các nước đang phát triển chính đã thiếu phối hợp về tỷ giá hối đoái và chính sách tài chính trong việc thực thi hệ thống tỷ giá hối đoái thả nổi có quản lý (trong hệ thống này các ngân hàng trung ương can thiệp vào thị trường để gây ảnh hưởng đối với giá ngoại tệ) đã đưa đến kết quả là làm tỷ giá hối đoái và lãi suất chuyển động quanh một vòng trôn ốc. Những cố gắng nhằm lập các vùng mục tiêu, trong đó các tỷ giá hối đoái của các nước phát triển then chốt sẽ thả nổi chi làm tăng thêm những sự chuyển động vốn gây mất ổn định và những thay đổi về tỷ giá hối đoái không ổn định, khi các tỷ giá tất yếu xích đến gần ranh giới của các vùng mục tiêu. 

Bài viết bạn đang xem trong chuyên mục Giải trí tại website http://simtamhoa.org